Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010

“Chú Mười” Sao Vàng trong lòng mọi người

Về hưu đã 10 năm nay, nhưng sức làm việc của ông thì luôn tràn trề và ngùn ngụt như có một ngọn lửa say mê luôn bùng cháy trong lòng. Ông có mặt ở các cuộc hội thảo khoa học lớn nhỏ. Ông có tên trong nhiều đầu sách nghiên cứu, lịch sử quan trọng. Ông là đồng chí Nguyễn Chiến Thắng– nguyên Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long. Người ta gọi ông là nhà tuyên giáo, nhà báo, người làm thơ, viết sử,... Còn những người trẻ chúng tôi, vẫn thích gọi ông một cách thân thương trìu mến: “Chú Mười” Sao Vàng.

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và đồng chí Nguyễn Chiến Thắng đang ghi chép. (Ảnh do nhân vật cung cấp).
Chuyện bây giờ mới kể...
Có một câu chuyện cảm động đã qua hơn 20 năm, nhưng vẫn được nhiều người hay nhắc lại, về đồng chí Nguyễn Chiến Thắng với những lời nói như “móc” ra từ gan ruột của ông, tại một cuộc họp ở Bảo tàng Vĩnh Long. Cuộc họp có các đồng chí lãnh đạo tỉnh, các đồng chí cách mạng lão thành, để đóng góp ý kiến về vấn đề chuyển giao cơ ngơi Bảo tàng tỉnh cho ngành du lịch. Tại đó, với tư cách là Giám đốc Sở Văn hóa- Thông tin, ông đứng khóc giữa cuộc họp và đã có một câu nói nổi tiếng cho đến tận hôm nay: “Bảo tàng là bàn thờ của cách mạng. Chúng ta tôn trọng ngày xưa cũng là vì ngày hôm nay và cho cả mai sau”. Nhờ những câu nói gan ruột, nhờ sự can thiệp quyết liệt của ông, và một số người tâm huyết, mà chúng ta có được một Bảo tàng tỉnh trang trọng như ngày hôm nay. Nếu như ngày đó Bảo tàng tỉnh được giao về cho ngành du lịch thì số phận nó hôm nay như thế nào hẳn chúng ta đều biết. Câu chuyện này nói lên cái tâm và cái tầm của người lãnh đạo có lý luận thực tiễn sắc bén.
Nhưng, có một câu chuyện rất độc đáo mà ít người biết đến, khi đồng chí Nguyễn Chiến Thắng phụ trách Báo Vĩnh Trà. Khi đó, chưa có chỉ thị của Tỉnh ủy về vấn đề phát hành báo, cũng như đa số người dân chưa biết gì đến một tờ báo Đảng. Với cương vị là Tổng biên tập, ông lại cùng các nhân viên của mình lặng lẽ ôm báo đi... bán dạo ở bến đò ngang An Bình. Hơn 30 năm trôi qua, những nhân viên cùng ông ngày xưa đi “bán báo”, giờ có người đã là lãnh đạo Báo Vĩnh Long, nhưng họ vẫn không quên câu chuyện ngày xưa. Việc “bán báo dạo” của ông Tổng biên tập cốt là để trực tiếp được lắng nghe sự góp ý của mọi người về chất lượng tờ báo, cũng là vì mong mỏi sao cho “ý Đảng– lòng dân” phải xích lại gần nhau và hòa quyện máu thịt cùng nhau, ở giai đoạn mà đất nước còn nhiều khó khăn trong những năm đầu thống nhất. Đó cũng chính là tấm gương, cho thế hệ sau ý thức rõ nhất về trách nhiệm của mình trên bất kỳ cương vị nào.
Nhạc sĩ Huỳnh Anh Kiệt– nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Long- thường nhắc đến đồng chí Sao Vàng: “Đó là một con người mà tôi vô cùng kính trọng cả về đức lẫn tài. Một nhân cách tuyệt vời, hết mực giản dị, hòa đồng, có tình có nghĩa với mọi người, nhưng luôn “cháy” hết mình cho công việc”. Lời nói của ông luôn giản dị, chân tình, tạo cho mọi người cảm giác gần gũi, tin cậy. Ông không bao giờ khua khoắng ngôn ngữ, lên gân, mà lại rất chính trị, rất sống động và đi thẳng vào trái tim người nghe, nên mang tính thuyết phục cao. Như Bác Hồ có nói về người làm công tác tuyên giáo: “Phải biết cách nói. Nói thì phải đơn giản, rõ ràng, thiết thực”, “Tuyên truyền là đem việc gì đó nói cho nhân dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm”. Đồng chí Sao Vàng không chỉ hoàn thành xuất sắc công việc của người làm công tác tuyên truyền như lời Bác dạy; mà điều đó cũng chính là phong cách, lối sống của ông trong đời thường, cho nên nó trở thành tự nhiên nhất, chân thành nhất và có sức lay động, thuyết phục nhất đối với mọi người. Đó chính là bản lĩnh của một nhà tuyên giáo năng động, theo đúng lời dạy của Bác Hồ.
... Chan chứa tình yêu quê hương xứ sở
Người ta biết đến đồng chí Sao Vàng là một nhà làm tuyên giáo, lại còn là người thích sưu tầm nghiên cứu, viết báo, làm thơ, viết sử với nhiều đầu sách quan trọng. Trong âm thầm lặng lẽ, những trang sách của ông luôn mang nặng nỗi lòng với quê hương xứ sở. Cũng chính vì có thực tiễn hoạt động phong phú trên nhiều lĩnh vực, nên khi ở bất kỳ vị trí lãnh đạo nào, ông cũng luôn thấu hiểu, và có những đóng góp vô cùng to lớn. Nhạc sĩ Huỳnh Anh Kiệt còn khẳng định: “Ngày nay có quá nhiều bài viết, sách nghiên cứu về cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nhưng quyển sách “Dấu ấn Võ Văn Kiệt” do ông Nguyễn Chiến Thắng chủ biên, chính là một trong những công trình khoa học mang tính phát hiện đầu tiên về đồng chí Võ Văn Kiệt”.
Một công trình khoa học khác mà ông Nguyễn Chiến Thắng tham gia biên tập là “Chân dung người chiến sĩ cộng sản Phạm Hùng”. Và, nhiều đầu sách nghiên cứu về những người con ưu tú của quê hương Vĩnh Long: “Bí thư Tỉnh ủy qua các thời kỳ 1931- 2005”, “Những người con trung hiếu”, “Chân dung nghệ sĩ quê hương Vĩnh Long”, “Ca dao hò vè Vĩnh Long” (chủ biên),... Hiện ông đang ấp ủ đề tài mà mình đã theo đuổi hơn 10 năm nay là “Từ điển nhân vật lịch sử Vĩnh Long”.
Đồng chí Nguyễn Chiến Thắng (ảnh do nhân vật cung cấp)
Nhiều người khẳng định rằng, thời gian ông Nguyễn Chiến Thắng làm lãnh đạo Sở Văn hóa- Thông tin, là thời kỳ Hội Văn học nghệ thuật được quan tâm chăm bồi nhiều nhất. Nguyên do, bởi vì ông cũng chính là một người quan tâm đến nghệ thuật, có nhiều sáng tác trong lĩnh vực thơ ca. Những bài thơ sâu sắc, kiên định với lý tưởng cộng sản, bên cạnh những vần thơ mềm mại mà nồng nàn tình yêu quê hương xứ sở, đã làm nên một nhà thơ Sao Vàng mang bản sắc, giọng điệu riêng không lẫn vào đâu được. Đã nhiều năm rồi, tôi vẫn còn giữ lại ấn tượng đêm thơ được tổ chức thật ấm cúng ở Thư viện tỉnh. Ở đó, mọi người vô cùng ngạc nhiên khi nhà “chính trị” Nguyễn Chiến Thắng làm thơ hay đến thế:
“Thương quê nội in bóng hình quê ngoại
Giọng ầu ơ... bên chiếc võng thân quen
Câu ca dao gọi người đi mở cõi
Câu vọng cổ mùi thi vị chiến công

Một núm ruột hai quê thương nhớ
Lá rơi nào khỏi cội, xa nguồn
Khi con ở xa: chân trời, góc biển
Tấm lòng nào không nặng nghĩa quê hương...”
(Thương quê nội nhớ nhiều quê ngoại)
Chỉ với mấy vần thơ da diết trên cũng đủ nói lên tình cảm chan chứa, đằm sâu tấm lòng với quê hương xứ sở. Nhưng “gia tài” thơ của ông đâu chỉ có thế, ngoài nhiều tập thơ in chung, nhà thơ Sao Vàng đã có riêng cho mình 2 tập thơ khá hay: “Thương quê nội nhớ nhiều quê ngoại” và “Nụ cười chiều thứ bảy”. Ở đó, ta sẽ bắt gặp nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều trăn trở suy tư chuyện người, chuyện đời.
Thơ là một cách thể hiện khác con người ông, một cách tư duy, một cách nhận diện cuộc sống bằng tài hoa biến tấu ngôn ngữ, nhưng vẫn luôn thống nhất là một. Dù “nói” hay “làm thơ” đều đi đôi với hành động nhất quán. Đó cũng là quan điểm sống, mà có lần ông bộc bạch chân tình về những điều tâm đắc nhất khi học tập và làm theo tấm gương của Bác: nói phải đi đôi với làm. Đức hy sinh to lớn của Bác, đã hiến trọn đời mình cho dân, cho nước là điều mà thế hệ sau không thể nào theo kịp; nhưng chúng ta vẫn có thể học ở Bác rất nhiều việc giản dị nhất, từ trong cuộc sống thường nhật. Một việc dù là nhỏ nhất mà có lợi ích cho cộng đồng, nhân dân thì nên làm lắm chớ. Tuy nhiên, ông vẫn cảm thấy băn khoăn, hình như có quá ít những tấm gương tiêu biểu là những vị lãnh đạo. Mong sao những người càng mang nặng trọng trách thì càng đề cao việc học tập và làm theo tấm gương của Bác nhiều hơn. Mong lắm thay!
Trên đây chỉ là những mẩu chuyện nhỏ mà chúng tôi góp nhặt được. Khó có thể chuyển tải hết cuộc đời hoạt động vô cùng phong phú của đồng chí Nguyễn Chiến Thắng. Một cuộc đời có thể viết thành một quyển sách “đẹp” dành tặng cho những thế hệ mai sau.
HÀ NGỌC TRẢNG

Thứ Năm, 18 tháng 11, 2010

Những tác phẩm nhân vật sự kiện lịch sử

(xem số trang của từng mục rồi nhấn vào)
stt
Nội dung
Đọc ở trang số
1
TÍNH CÁCH VÕ VĂN KIỆT
2
CHÚNG TA MÃI MÃI LÀ CON CHÁU TRUNG THÀNH CỦA BÁC HỒ”
3
PHAN VĂN ĐÁNG (Sứ giả phong trào Đồng Khởi)
4
ĐỒNG KHỞI
5
CUỘC KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN THÁNG TÁM NĂM 1945 Ở VĨNH LONG
6
VĨNH LONG VỚI PHONG TRÀO ĐÔNG DU CẦU HỌC, CỨU NƯỚC
7
GIAI THOẠI DÂN GIAN VỀ THOẠI NGỌC HẦU
8
THẦN TƯỢNG TÔN ĐỨC THẮNG
9
QUẬN CHÚA BIỆT ĐỘNG - “TÊN XÂM LƯỢC LỊCH SỬ” CẦN VẠCH MẶT VÀ LÊN ÁN
10
VĨNH LONG 300 NĂM TẦM NHÌN LỊCH SỬ
11
CÁI TÂM VÕ VĂN KIỆT
12
TỪ LONG HỒ DINH ĐẾN VĨNH LONG GỐC NHÌN VĂN HÓA
13
MỘT LẦN GẶP BÁC PHẠM VĂN ĐỒNG
14
TẤM GƯƠNG ĐỒNG CHÍ PHẠM HÙNG, BÀI HỌC THỰC TIỄN TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI
15
THƯƠNG TIẾC NGHỆ SĨ NHÂN DÂN ÚT TRÀ ÔN
16
ĐỒNG CHÍ NÔNG ĐỨC MẠNH THĂM TỈNH VĨNH LONG
17
DIỆN MẠO VŨNG LIÊM
18
PHAN VĂN CHƯƠNG NGÃ RẼ CUỘC ĐỜI
19
PHAN VĂN CUNG NGƯỜI TRÍ THỨC GIÀU LÒNG YÊU NƯỚC
20
TRẦN VĨNH MIÊNG NGƯỜI GIEO HẠT GIÓNG ĐỎ
21
TRẦN MINH NGUYỆT CHUNG VAI CÙNG LÝ TƯỞNG
22
ĐẶNG MINH NHUẬN NGƯỜI THAM GIA CHỈ TRẬN ẤP BẮC
23
NGUYỄN VĂN NHUNG NGƯỜI CHIẾN SĨ NAM KỲ KHỞI NGHĨA
24
LÊ VĂN NHẬT NGƯỜI CON ƯU TÚ ĐẤT CÙ LAO AN BÌNH
25
NGUYỄN TRƯỜNG THANH HAI LẦN LÀM BÍ THƯ TỈNH ỦY CẦN THƠ
26
NGÔ VĂN CHÍNH BÍ THƯ ĐẦU TIÊN TỈNH VĨNH LONG
27
THÁI VĂN ĐẨU NGƯỜI LÃNH ĐẠO KHỞI NGHĨA NAM KỲ Ở VĨNH LONG
28
TẠ BỬU NGƯỜI BÍ THƯ TRẺ NHẤT
29
ĐẶNG VĂN THÔNG NGƯỜI BÍ THƯ GỐC QUÂN SỰ
30
LÊ THẾ TỢI NGƯỜI BÍ THƯ TỈNH ỦY – NHÀ BÁO NỔI TIẾNG
31
PHAN VÂN NGƯỜI BỊ ĐÀY Ở CHÂU PHI
32
NGUYỄN NGỌC THANH TÀI NGƯỜI THỢ MAY
33
NGUYỄN THÀNH THƠ BÍ THƯ TỈNH TAM CẦN
34
NGUYỄN THÀNH CHẤN NGƯỜI BÍ THƯ TỈNH ỦY THỜI KỲ CHỐNG CHIẾN TRANH CỤC BỘ
35
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TỪ LONG HỒ DINH ĐẾN VĨNH LONG THỜI NGUYỄN
(1732 – 1867)
36
VĨNH LONG 135 NĂM, LỊCH SỬ TRẢI QUA CÁCH NHÌN ĐỔI MỚI

Thứ Hai, 8 tháng 11, 2010

Kỳ 1: Tống Phước Hiệp và vùng đất Long Hồ Dinh

Trong lịch sử của một đất nước, điều làm nên sự khác biệt chính là “linh hồn”  dân tộc. Kết tinh từ những giá trị văn hiến, nhân văn bất khả xâm phạm, những gì tinh túy nhất hình thành nên bản sắc của một cộng đồng, sắc dân, dân tộc. Đó cũng là vũ khí quan trọng nhất của một đất nước trong quá trình hình thành, tồn tại, hội nhập và phát triển.
 
Ông Nguyễn Chiến Thắng tra cứu về nhân vật Tống Phước Hiệp trong bản thảo công trình khoa học “Từ điển nhân vật lịch sử tỉnh Vĩnh Long”.
Đối với đất nước chúng ta- đặc biệt là vùng đất mới phương Nam, đình miếu là một trong những thành tố quan trọng, tạo nên một không gian văn hóa riêng, kết nối vào tiến trình vận động chung của dân tộc, hòa thành dòng chảy lịch sử chứa đựng trong lòng nó một chiều sâu ngàn năm văn hiến. Vĩnh Long là một vùng đất trọng yếu, trong giai đoạn hoàn thành quá trình mở cõi phương Nam nên cũng không ngạc nhiên khi đây là một trong số ít địa phương của Nam Bộ còn lưu giữ lại “đậm đặc” những di tích lịch sử văn hóa. Trong đó, miếu Tống Quốc Công là một di tích khá đặc biệt, ghi nhận công lao to lớn của một nhân vật lịch sử- quan Lưu thủ Long Hồ Dinh Tống Phước Hiệp.
Những mốc lịch sử  trong quá trình mở cõi
Theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục (quyển III), vào tháng 3 năm Tân Sửu (1301), Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã truyền ngôi cho con ở núi Yên Tử, muốn thưởng ngoạn khắp núi sông thiên hạ, nên mới du phương rồi sang Chiêm Thành. Trong chuyến đi này, Trần Nhân Tông đã hứa gả Huyền Trân công chúa cho Chế Mân. Đến tháng 6 năm Bính Ngọ (1306), tức 5 năm sau, Huyền Trân công chúa mới chính thức lên thuyền hoa về nhà chồng. Chế Mân dâng châu Ô và châu Rí (châu Lý) làm sính lễ. Vua Trần Anh Tông tiếp nhận châu Ô và châu Rí, đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu, tức vùng đất từ Quảng Trị và đến đèo Lao Bảo (Nam đèo Hải Vân), bắt đầu cuộc di dân, lập ấp đầu tiên trong lịch sử mở rộng cõi bờ về phương Nam.

Nhưng phải đến năm 1558, khi chúa Nguyễn Hoàng nghe theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành sơn nhất đái. Vạn đại dung thân”, mà xin về trấn thủ đất Thuận Hóa, mở xứ Đàng Trong; con cháu kế tiếp nối ngôi chúa Nguyễn kéo dài 219 năm trong lịch sử, đất nước mới thật sự hình thành nên thế đất vững bền, phát triển cực thịnh về mọi mặt.
Cuộc mở mang bờ cõi lại được đánh dấu bằng mốc son lịch sử đáng nhớ: Năm 1732, khi Ninh vương Nguyễn Phúc Trú quyết định thành lập dinh thứ 12 là Long Hồ Dinh (châu Định Viễn), lỵ sở đặt tại thôn An Bình Đông, huyện Kiến An (Cái Bè). Đến năm 1757, lỵ sở được dời về xứ Tầm Bào, thuộc địa phận Long Hồ, TP Vĩnh Long ngày nay. Long Hồ Dinh ra đời, định vị một cuộc đất quan trọng đối với phương Nam về mọi mặt: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa,... Và, cũng đánh dấu cuộc Nam tiến vĩ đại của dân tộc ta, đã cơ bản hoàn thành.
Đặc biệt, vùng đất Long Hồ Dinh gắn liền với tên tuổi một nhân vật lịch sử Tống Phước Hiệp.
Quan Lưu thủ đầu tiên của Long Hồ Dinh
Theo bản thảo công trình khoa học “Từ điển nhân vật lịch sử tỉnh Vĩnh Long” của ông Nguyễn Chiến Thắng- nguyên Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long, Tống Phước Hiệp là một công thần nhà Nguyễn, thuộc dòng dõi họ Tống, theo chúa Nguyễn Hoàng vào Nam mở cõi. Ông quê ở huyện Tống Sơn, nay là huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, là cháu của Quận công Tống Phước Trị.
Năm 1732, chúa Nguyễn Phúc Trú quyết định thành lập Long Hồ Dinh, Tống Phước Hiệp được bổ nhiệm làm quan Lưu thủ đầu tiên ở Long Hồ. Trong thời gian này, ông đã có rất nhiều công sức giữ vững an ninh trật tự của vùng đất mới, phát triển kinh tế, mở rộng giao thương, khai hoang lập ấp. Ông là vị tướng có nhiều công trạng đánh đuổi quân Xiêm ở vùng đất Tây Nam. Theo ông Nguyễn Chiến Thắng, Tống Phước Hiệp là vị quan văn võ toàn tài, tận tụy hết lòng vì công việc an dân mở cõi, và nổi tiếng là vị quan thanh liêm, thương dân hết mực.
Năm 1772, quân Xiêm tràn vào xâm chiếm Hà Tiên, Đô đốc Mạc Thiên Tứ thua trận rút lui về Trấn Giang (Cần Thơ), ông được lệnh đem quân tiếp cứu. Trong trận này, ta tiêu diệt hàng ngàn tên địch, buộc giặc phải rút quân ra khỏi biên giới. Năm 1775– 1776, ông nổi tiếng là vị tướng tài hết lòng phò chúa Nguyễn trong việc mở mang bờ cõi, đánh giặc giữ vững vùng đất miền Trung và phía Tây Nam, được chúa Nguyễn phong Tiết chế tướng Kinh Quận Công.

Ngày mùng 2 tháng 6 năm Bính Tuất (1776), Tống Phước Hiệp bị bệnh nặng rồi mất. Dân chúng hết lòng thương tiếc, để tang 3 ngày. “Chợ búa nghỉ buôn bán, phố phường đóng cửa, mọi hoạt động làm ruộng, đánh cá đều ngừng lại, quốc kỳ treo rũ các tư dinh”. Triều đình truy tặng ông nhiều danh hiệu: “Tả phù Quốc Công”, “Hữu phù Quốc Công”. Và ban sắc phong Trung đẳng thần, truyền lệnh lập miếu Quốc Công thờ tự ông ở làng Trường Xuân, nay là Phường 1- TP Vĩnh Long. Người dân Long Hồ nhiều thế hệ nối tiếp tôn kính ông, hàng năm đến ngày kỵ cơm mùng 2 tháng 6, đông đảo người dân kéo về chiêm bái, nhớ ơn vị quan thanh liêm hết lòng lo cho dân, cho nước.
Như vậy, có thể thấy dòng họ Tống Phước đã đóng góp công trạng to lớn vào quá trình lịch sử mở cõi phương Nam, ngay từ buổi đầu tiên với chúa Nguyễn Hoàng, cho đến khi Long Hồ Dinh thành lập, tức đến khi cuộc Nam tiến cơ bản hoàn thành.
Qua những tài liệu lịch sử như: tài liệu của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa, Lịch sử tỉnh Vĩnh Long, Võ tướng Thanh Hóa trong lịch sử dân tộc của Trần Văn Thịnh – NXB KHXH năm 2005, Vĩnh Long xưa và nay của Huỳnh Minh– NXB Cánh Bằng năm 1967... có thể khẳng định: Tống Phước Hiệp là vị quan “Khai quốc công thần”, có công trạng “khai sơn phá thạch” đặt nền móng vững chắc cho cả vùng đất Tây Nam Bộ. Đặc biệt, tên tuổi ông gắn liền với sự hình thành của Long Hồ Dinh. Do đó, miếu Tống Quốc Công cũng là một di tích lịch sử văn hóa quan trọng của Vĩnh Long.
Rất tiếc, hiện nay miếu Tống Quốc Công đã không còn nữa, chỉ sót lại những sắc thần còn lưu giữ tại Bảo tàng Vĩnh Long, Công Thần miếu (Thanh Đức- Long Hồ) và một số ít di vật. Đất nước chúng ta luôn chịu nhiều thiên tai địch họa, rồi chiến tranh liên miên cùng những biến cố thăng trầm của thời gian, lịch sử nên có nhiều công trình kiến trúc, đền chùa miếu mạo bị tàn phá, hủy hoại là điều khó tránh khỏi. Đây cũng là lý do chung đã làm biến mất nhiều di tích, công trình kiến trúc, văn hóa trên thế giới. Do đó, việc khôi phục lại miếu Tống Quốc Công là việc làm vô cùng cần thiết, như lẽ đương nhiên hợp đạo lý và thuận lòng dân.
Ngay lúc này đây, nên thẳng thắn bàn đến chuyện này cũng chưa phải là quá muộn, trước khi Vĩnh Long tự hào kỷ niệm 300 năm thành lập vùng đất Long Hồ Dinh vào năm 2032.

Kỳ 2: Thăng trầm một di tích
Bài, ảnh: HÀ NGỌC TRẢNG