Trong lịch sử của một đất nước, điều làm nên sự khác biệt chính là “linh hồn” dân tộc. Kết tinh từ những giá trị văn hiến, nhân văn bất khả xâm phạm, những gì tinh túy nhất hình thành nên bản sắc của một cộng đồng, sắc dân, dân tộc. Đó cũng là vũ khí quan trọng nhất của một đất nước trong quá trình hình thành, tồn tại, hội nhập và phát triển.
Ông Nguyễn Chiến Thắng tra cứu về nhân vật Tống Phước Hiệp trong bản thảo công trình khoa học “Từ điển nhân vật lịch sử tỉnh Vĩnh Long”.
Đối với đất nước chúng ta- đặc biệt là vùng đất mới phương Nam, đình miếu là một trong những thành tố quan trọng, tạo nên một không gian văn hóa riêng, kết nối vào tiến trình vận động chung của dân tộc, hòa thành dòng chảy lịch sử chứa đựng trong lòng nó một chiều sâu ngàn năm văn hiến. Vĩnh Long là một vùng đất trọng yếu, trong giai đoạn hoàn thành quá trình mở cõi phương Nam nên cũng không ngạc nhiên khi đây là một trong số ít địa phương của Nam Bộ còn lưu giữ lại “đậm đặc” những di tích lịch sử văn hóa. Trong đó, miếu Tống Quốc Công là một di tích khá đặc biệt, ghi nhận công lao to lớn của một nhân vật lịch sử- quan Lưu thủ Long Hồ Dinh Tống Phước Hiệp.
Những mốc lịch sử trong quá trình mở cõi
Theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục (quyển III), vào tháng 3 năm Tân Sửu (1301), Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã truyền ngôi cho con ở núi Yên Tử, muốn thưởng ngoạn khắp núi sông thiên hạ, nên mới du phương rồi sang Chiêm Thành. Trong chuyến đi này, Trần Nhân Tông đã hứa gả Huyền Trân công chúa cho Chế Mân. Đến tháng 6 năm Bính Ngọ (1306), tức 5 năm sau, Huyền Trân công chúa mới chính thức lên thuyền hoa về nhà chồng. Chế Mân dâng châu Ô và châu Rí (châu Lý) làm sính lễ. Vua Trần Anh Tông tiếp nhận châu Ô và châu Rí, đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu, tức vùng đất từ Quảng Trị và đến đèo Lao Bảo (Nam đèo Hải Vân), bắt đầu cuộc di dân, lập ấp đầu tiên trong lịch sử mở rộng cõi bờ về phương Nam.
Nhưng phải đến năm 1558, khi chúa Nguyễn Hoàng nghe theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành sơn nhất đái. Vạn đại dung thân”, mà xin về trấn thủ đất Thuận Hóa, mở xứ Đàng Trong; con cháu kế tiếp nối ngôi chúa Nguyễn kéo dài 219 năm trong lịch sử, đất nước mới thật sự hình thành nên thế đất vững bền, phát triển cực thịnh về mọi mặt.
Cuộc mở mang bờ cõi lại được đánh dấu bằng mốc son lịch sử đáng nhớ: Năm 1732, khi Ninh vương Nguyễn Phúc Trú quyết định thành lập dinh thứ 12 là Long Hồ Dinh (châu Định Viễn), lỵ sở đặt tại thôn An Bình Đông, huyện Kiến An (Cái Bè). Đến năm 1757, lỵ sở được dời về xứ Tầm Bào, thuộc địa phận Long Hồ, TP Vĩnh Long ngày nay. Long Hồ Dinh ra đời, định vị một cuộc đất quan trọng đối với phương Nam về mọi mặt: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa,... Và, cũng đánh dấu cuộc Nam tiến vĩ đại của dân tộc ta, đã cơ bản hoàn thành.
Đặc biệt, vùng đất Long Hồ Dinh gắn liền với tên tuổi một nhân vật lịch sử Tống Phước Hiệp.
Quan Lưu thủ đầu tiên của Long Hồ Dinh
Theo bản thảo công trình khoa học “Từ điển nhân vật lịch sử tỉnh Vĩnh Long” của ông Nguyễn Chiến Thắng- nguyên Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long, Tống Phước Hiệp là một công thần nhà Nguyễn, thuộc dòng dõi họ Tống, theo chúa Nguyễn Hoàng vào Nam mở cõi. Ông quê ở huyện Tống Sơn, nay là huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, là cháu của Quận công Tống Phước Trị.
Năm 1732, chúa Nguyễn Phúc Trú quyết định thành lập Long Hồ Dinh, Tống Phước Hiệp được bổ nhiệm làm quan Lưu thủ đầu tiên ở Long Hồ. Trong thời gian này, ông đã có rất nhiều công sức giữ vững an ninh trật tự của vùng đất mới, phát triển kinh tế, mở rộng giao thương, khai hoang lập ấp. Ông là vị tướng có nhiều công trạng đánh đuổi quân Xiêm ở vùng đất Tây Nam. Theo ông Nguyễn Chiến Thắng, Tống Phước Hiệp là vị quan văn võ toàn tài, tận tụy hết lòng vì công việc an dân mở cõi, và nổi tiếng là vị quan thanh liêm, thương dân hết mực.
Năm 1772, quân Xiêm tràn vào xâm chiếm Hà Tiên, Đô đốc Mạc Thiên Tứ thua trận rút lui về Trấn Giang (Cần Thơ), ông được lệnh đem quân tiếp cứu. Trong trận này, ta tiêu diệt hàng ngàn tên địch, buộc giặc phải rút quân ra khỏi biên giới. Năm 1775– 1776, ông nổi tiếng là vị tướng tài hết lòng phò chúa Nguyễn trong việc mở mang bờ cõi, đánh giặc giữ vững vùng đất miền Trung và phía Tây Nam, được chúa Nguyễn phong Tiết chế tướng Kinh Quận Công.
Ngày mùng 2 tháng 6 năm Bính Tuất (1776), Tống Phước Hiệp bị bệnh nặng rồi mất. Dân chúng hết lòng thương tiếc, để tang 3 ngày. “Chợ búa nghỉ buôn bán, phố phường đóng cửa, mọi hoạt động làm ruộng, đánh cá đều ngừng lại, quốc kỳ treo rũ các tư dinh”. Triều đình truy tặng ông nhiều danh hiệu: “Tả phù Quốc Công”, “Hữu phù Quốc Công”. Và ban sắc phong Trung đẳng thần, truyền lệnh lập miếu Quốc Công thờ tự ông ở làng Trường Xuân, nay là Phường 1- TP Vĩnh Long. Người dân Long Hồ nhiều thế hệ nối tiếp tôn kính ông, hàng năm đến ngày kỵ cơm mùng 2 tháng 6, đông đảo người dân kéo về chiêm bái, nhớ ơn vị quan thanh liêm hết lòng lo cho dân, cho nước.
Như vậy, có thể thấy dòng họ Tống Phước đã đóng góp công trạng to lớn vào quá trình lịch sử mở cõi phương Nam, ngay từ buổi đầu tiên với chúa Nguyễn Hoàng, cho đến khi Long Hồ Dinh thành lập, tức đến khi cuộc Nam tiến cơ bản hoàn thành.
Qua những tài liệu lịch sử như: tài liệu của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa, Lịch sử tỉnh Vĩnh Long, Võ tướng Thanh Hóa trong lịch sử dân tộc của Trần Văn Thịnh – NXB KHXH năm 2005, Vĩnh Long xưa và nay của Huỳnh Minh– NXB Cánh Bằng năm 1967... có thể khẳng định: Tống Phước Hiệp là vị quan “Khai quốc công thần”, có công trạng “khai sơn phá thạch” đặt nền móng vững chắc cho cả vùng đất Tây Nam Bộ. Đặc biệt, tên tuổi ông gắn liền với sự hình thành của Long Hồ Dinh. Do đó, miếu Tống Quốc Công cũng là một di tích lịch sử văn hóa quan trọng của Vĩnh Long.
Rất tiếc, hiện nay miếu Tống Quốc Công đã không còn nữa, chỉ sót lại những sắc thần còn lưu giữ tại Bảo tàng Vĩnh Long, Công Thần miếu (Thanh Đức- Long Hồ) và một số ít di vật. Đất nước chúng ta luôn chịu nhiều thiên tai địch họa, rồi chiến tranh liên miên cùng những biến cố thăng trầm của thời gian, lịch sử nên có nhiều công trình kiến trúc, đền chùa miếu mạo bị tàn phá, hủy hoại là điều khó tránh khỏi. Đây cũng là lý do chung đã làm biến mất nhiều di tích, công trình kiến trúc, văn hóa trên thế giới. Do đó, việc khôi phục lại miếu Tống Quốc Công là việc làm vô cùng cần thiết, như lẽ đương nhiên hợp đạo lý và thuận lòng dân.
Ngay lúc này đây, nên thẳng thắn bàn đến chuyện này cũng chưa phải là quá muộn, trước khi Vĩnh Long tự hào kỷ niệm 300 năm thành lập vùng đất Long Hồ Dinh vào năm 2032.
Kỳ 2: Thăng trầm một di tích
Bài, ảnh: HÀ NGỌC TRẢNG

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét